Chaebol Hàn Quốc và bài học về phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam

Những tập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc (chaebol) đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa nhanh ở đất nước này. Chúng cũng được coi là thủ phạm gây nên tình trạng suy sụp kinh tế ở Hàn Quốc trong thời gian khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Chính phủ Hàn Quốc đã buộc các tập đoàn lớn phải trải qua một số quá trình cải tổ sâu rộng đến tận hôm nay.

 

 

Ngành đóng tàu là một phần quan trọng của Chaebol Hyundai

 

Bài học từ thành công của chaebol Hàn Quốc

 

Chaebol là công ty lớn thuộc sở hữu của gia đình ở Hàn Quốc. Từ đầu những năm 1960, chính quyền Park Chung Hee đã vạch ra các kế hoạch 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế, chọn một số tập đoàn mạnh để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế quốc gia theo hướng xuất khẩu và đồng thời thay thế hàng nhập khẩu.Sự hợp tác giữa chính phủ với các chaebol đã đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và tạo nên những thành công đáng kinh ngạc của Hàn Quốc. Có mấy nguyên nhân chính tạo nên sự phát triển thành công của các chaebol như sau.

 

Thứ nhất, các chaebol nhận được sự ưu đãi đặc biệt của nhà nước. Với chủ trương nhà nước gánh bớt rủi ro tài chính để các chaebol yên tâm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế theo kế hoạch nhà nước đề ra, chính phủ bảo lãnh việc trả nợ trong trường hợp công ty không thể thanh toán các khoản vay tín dụng nước ngoài. Chính phủ cũng giảm thuế đánh vào các chaebol, đặc biệt là đối với các công ty xây dựng thực hiện các công trình kết cấu hạ tầng như cầu và đường cao tốc.

 

Thứ hai, các chaebol đã có chiến lược tiếp cận công nghệ mới một cách có hiệu quả. Khi đã phát triển ở trình độ cao hơn, các chaebol đã sáng tạo ra những công nghệ và sản phẩm mới đủ sức cạnh tranh với các nhà sản xuất truyền thống.

 

Thứ ba, các chaebol phát triển trong bối cảnh thị trường trong nước và thế giới tương đối thuận lợi. Nhu cầu tiêu dùng trong nước và trên thế giới sau chiến tranh đã tạo nên thị trường rộng rãi cho các sản phẩm của các chaebol. Lấy Daewoo làm ví dụ: Năm 1967 hãng này khởi nghiệp từ một xưởng may nhỏ với số vốn ban đầu 5.000 USD và 20 nhân viên. Tiếp cận được những đơn đặt hang xuất khẩu, hãng này nhanh chóng trở thành công ty xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất Hàn Quốc. Trong 30 năm tiếp sau đó, Daewoo mở rộng phạm vi hoạt động ra nhiều ngàng nghề khác.

 

Thứ tư, trong những năm 1960 - 70, Hàn Quốc có lợi thế về nhân lực - có đội ngũ lao động trẻ, cần cù, sáng tạo và có kỷ luật.

 

Thứ năm, không thể không lưu ý rằng mặc dù các chaebol bị chính phủ định hướng hoạt động theo các mục tiêu quốc gia, nhưng chúng đã không bị ràng buộc bởi những mục tiêu xã hội khác ngoài kinh doanh như tạo việc làm, chống thất nghiệp. Trên thực tế, các chaebol không đóng vai trò đáng kể nào đối với việc tạo việc làm cho lao động trong nước.

 

Một số bài học từ sự thất bại của chaebol Hàn Quốc

 

Chaebol đã giúp chuyển đổi nền kinh tế Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Tuy nhiên, chaebol đã bị coi là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 - 1998 ở Hàn Quốc. Đó là do chính sách ưu đãi kéo dài quá lâu của chính phủ đối với chúng và do bản thân cơ cấu tổ chức quản lý của chính các chaebol. Cụ thể:

 

Thứ nhất, mối quan hệ “thân hữu” giữa chính phủ với một số doanh nghiệp lớn làm méo mó các thước đo hiệu quả kinh doanh, không có hệ thống giám sát chặt chẽ nên các tập đoàn đã vay để đầu tư tràn lan, trong đó có những dự án sinh lợi kém. Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 diễn ra, các ngân hàng nước ngoài đồng loạt không cho các chaebol vay nợ thêm. Tháng 12-1997, Hàn Quốc phải cam kết thực hiện gói biện pháp cải cách kinh tế để đổi lấy món vay 58 tỉ USD cứu trợ từ IMF.

 

Thứ hai, các chaebol đã chạy theo việc bành trướng quy mô và đầu tư vào nhiều lĩnh vực, mà không tập trung sức mạnh vào một số ít lĩnh vực chính. Ví dụ, tập đoàn Daewoo đã chuyển từ lĩnh vực dệt may sang rất nhiều ngành: sản xuất ô tô, viễn thong, điện tử tiêu dung, đóng tàu, xây dựng, tài chính, khách sạn, kinh doanh bất động sản… Daewoo đã phá sản năm 1999 với món nợ không trả được lên tới 80 tỷ USD và vị chủ tịch nổi tiếng Kim Woo Chung đã phải trốn tránh pháp luật nhiều năm ở nước ngoài.

 

Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa do chaebol dẫn đầu đã đẩy sự tập trung vốn và các hoạt động mang lại lợi ích kinh tế vào tay một số lượng giới hạn các chaebol. Sự phát triển quá mạnh của các chaebol và mối liên kết chặt chẽ của chúng với chính quyền đã là mối lo ngại đối với việc hoạch định chính sách một cách công bằng.

 

Thứ tư, xét trên góc độ quản lý, thì cấu trúc sở hữu gia đình không thích hợp với việc quản trị một doanh nghiệp lớn. Một gia đình nắm quyền kiểm soát toàn bộ chaebol, không để các nhân tố độc lập, kể cả các cổ đông nhỏ, nhà nước hoặc các thành viên khác trong gia tộc có tiếng nói trong việc quyết định kế hoạch chiến lược, lựa chọn dự án và lĩnh vực đầu tư.

 

Những điểm yếu kém của chaebol đã được mổ xẻ trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997. Chính phủ của Tổng thống Kim Dae Jung đã quyết định thực hiện tái cấu trúc các tập đoàn với những nội dung chủ yếu như sau:Xác lập và khống chế các tỷ lệ tài chính nhằm bảo đảm an toàn tài chính cho tập đoàn. Trong đó tỷ lệ nợ vay trên vốn sở hữu không quá 200%.Không cho phép công ty mẹ bảo lãnh nợ cho công ty con thuộc tập đoàn.Cấm các chaebol sở hữu các công ty tài chính phi ngân hàng.Minh bạch hóa quản lý bằng cách công bố các báo cáo tài chính, thông tin tài chính và thông tin kinh doanh.Tập trung vào ngành nghề chính nhằm tăng sức cạnh tranh ở tầm toàn cầu.Quy trách nhiệm cá nhân các lãnh đạo gia đình chaebol trong việc điều hành và lãnh đạo tập đoàn.Gia tăng quyền hạn cho cổ đông thiểu số. Trong hội đồng quản trị của các chaebol bắt buộc phải có thành viên độc lập, không phải là cổ đông nhưng vẫn có quyền bỏ phiếu và quyết định. Đây là biện pháp giám sát và kiểm soát hữu hiệu hơn đối với các tập đoàn.Khống chế đầu tư vào các công ty thành viên và cấm một số giao dịch giữa các công ty thành viên với nhau.Nghiêm cấm các hình thức hối lộ, các hình thức tác động lên quá trình ra quyết định chính sách.

 

Những bài học cho tập đoàn kinh tế Việt Nam

 

Trong quá trình cải cách kinh tế, các DN nhà nước đã được sắp xếp lại, cổ phần hóa, giải thể. Với mục đích tạo ra sự liên kết và phân công sản xuất kinh doanh, các tổng công ty và tập đoàn kinh tế lớn được thành lập.

 

Vào năm 1990 và 1991 Nhà nước đã thành lập các tổng công ty nhà nước, đến năm 2005 thì một số tổng công ty được tổ chức thành tập đoàn kinh tế. Đến năm 2008 có 8 tập đoàn kinh tế và 96 tổng công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Về mặt pháp lý, Luật DN Việt Nam năm 2005 coi tập đoàn kinh tế là một hình thức của nhóm công ty - là "tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác". Chưa có quy định nào về cơ cấu tổ chức và quản lý đối với tập đoàn kinh tế.

 

Danh sách các tập đoàn kinh tế nhà nước cho đến năm 2010 có: Bưu chính - Viễn thông (VNPT), Than - Khoáng sản (Vinacomin), Dầu khí (Petro-Vietnam), Điện lực (EVN), Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), Dệt May (Vinatex), Cao su (VRG) và Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt). Trong khu vực tư nhân, cũng có một số doanh nghiệp lớn tự gọi là tập đoàn, nhưng quy mô chưa lớn.

 

Khác với chaebol, các tập đoàn kinh tế của Việt Nam hầu hết thuộc sở hữu nhà nước. Cũng khác với các tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ. ở Việt Nam các tập đoàn được thành lập dựa trên các quyết định hành chính, tập hợp nhiều doanh nghiệp thuộc cùng một lĩnh vực để trở thành một nhóm doanh nghiệp lớn bao gồm công ty mẹ và các công ty con, với hy vọng sẽ là những doanh nghiệp mạnh, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và sẽ đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Lãnh đạo của các tập đoàn do Chính phủ bổ nhiệm và về thực chất họ là những công chức chính phủ, có nghĩa vụ tuân theo những kế hoạch và chỉ đạo của Chính phủ về định hướng phát triển ngành.

 

Điểm giống với chaebol Hàn Quốc trong thời kỳ 1960 - 1980 là các tập đoàn kinh tế Việt Nam được Nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về vốn. Các tập đoàn được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng. Ngân sách nhà nước có một khoản đầu tư hỗ trợ các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước với số tiền tăng lên hằng năm. Chính phủ cũng đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn đi vay nợ với lý do để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng.

 

Với sự ưu đãi như vậy, các tập đoàn đã trở thành những lực lượng mạnh chi phối các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Một số lĩnh vực đã có tiến bộ vượt bậc trong thời gian ngắn, như viễn thông, dầu khí, đóng tàu biển.

 

Song chính phủ chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các tập đoàn. Những điều đó dẫn đến hậu quả tương tự như đã xảy ra đối với các chaebol: các tập đoàn vay nợ lớn để mở rộng quy mô, đầu tư dàn trải vào nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành nghề chính, độc quyền và có khả năng lũng đoạn thị trường, quản lý kém gây thất thoát vốn, kinh doanh thua lỗ,...

 

Mặc dù những xu hướng xấu này đã được cảnh báo từ lâu, thậm chí được Quốc hội phân tích và yêu cầu chấn chỉnh trong nhiều cuộc họp định kỳ mấy năm gần đây, nhưng việc cải cách hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước hầu như chưa có chuyển biến đáng kể.

 

Hậu quả xấu không tránh khỏi là một số tập đoàn nhà nước làm ăn không hiệu quả, thậm chí đứng trên bờ vực phá sản. Vinashin là trường hợp điển hình của việc lặp lại nguyên xi những kinh nghiệm thất bại mà các chaebol Hàn Quốc đã trải qua. Chỉ mới thành lập từ năm 2006 từ việc hợp nhất Tổng công ty công nghiệp tàu thủy với một số DN khác, Vinashin đã được đầu tư ồ ạt từ nhiều nguồn. Đến nay tập đoàn này có 28 nhà máy đóng tàu có trình độ công nghệ tiên tiến, đội ngũ lao động trên 70.000 người, Từ chỗ chỉ đóng được tàu 1.000 - 3.000 tấn, đến nay tập đoàn này đã đóng được tàu hàng đến 53.000 tấn, tàu chở dầu thô đến 105.000 tấn, tàu chở ô-tô đến 6.900 xe, kho nổi chứa xuất dầu và thực hiện hàng trăm đơn đặt hàng của các nước trên thế giới.

 

Tuy nhiên, do chạy theo mở rộng quy mô và đầu tư dàn trải, đến năm 2010, tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.000 tỉ đồng, nhưng tổng số nợ là 86 nghìn tỉ đồng, tỷ lệ nợ phải trả so với vốn chủ sở hữu gấp gần 11 lần. Khủng hoảng tài chính thế giới đã làm đình trệ ngành đóng tàu thế giới do các hợp đồng đóng tàu bị cắt giảm và hủy bỏ. Vinashin rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng, đứng trước nguy cơ phá sản. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đang phải tiến hành một số biện pháp cấp bách để giải cứu Vinashin, trong đó có những biện pháp tương tự như Chính phủ Hàn Quốc đã làm đối với các chaebol Huyndai, Daewoo, Ssangyong.

 

Trường hợp Vinashin cho thấy tái cấu trúc các công ty lớn là cần thiết, nhưng phải đi kèm với việc thiết lập một hệ thống thể chế hoàn chỉnh và các công cụ chính sách hữu hiệu, trong đó kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp lớn và quản lý theo những tiêu chuẩn hiện đại là những yếu tố không thể thiếu nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong môi trường kinh tế toàn cầu hóa. Những biện pháp mà chính phủ Hàn Quốc áp dụng để tái cấu trúc các chaebol cũng nên được tham khảo và áp dụng đối với các tập đoàn và doanh nghiệp lớn của Việt Nam.

 

Bài: Vũ Tuấn Anh

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam

Bookmark and Share      In      Gửi phản hồi
 
* Họ và tên
* Email (will not be published)
!